5 ĐIỆU MÚA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI NỘI MÔNG

top 10 công ty du lịch hàng đầu Việt Nam

TP.HCM (028) 7305 7939 ĐÀ NẴNG (0236) 730 7939 HÀ NỘI (024) 7305 7939
ĐỒNG NAI (0251) 730 7936 VINH (0238) 730 7939 HẢI PHÒNG (0225) 730 7939
CẦN THƠ (0292) 730 7939

Du lịch trong nước

MIỀN BẮC
MIỀN TRUNG
MIỀN NAM

Du lịch nước ngoài

CHÂU Á THÁI LAN

Du lịch trong nước

MIỀN BẮC
MIỀN TRUNG
MIỀN NAM

Du lịch nước ngoài

CHÂU Á THÁI LAN
5 ĐIỆU MÚA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI NỘI MÔNG  

Cập nhật: 31-May-2019 10:14

Nội Mông là một khu tự trị của Trung Quốc, với các truyền thống về ca múa nhạc liên quan mật thiết đến âm nhạc Tuvan* và âm nhạc Mông Cổ. Nếu bạn đã đến Nội Mông, bạn sẽ không khó hiểu tại sao nhiều bài hát hay được viết về nơi này. Đồng cỏ yên bình và rộng mở khiến trái tim nhẹ nhàng thơ thới hơn, khiến bạn muốn hát và nhảy. Người dân tộc thiểu số Mông Cổ, họ yêu những đồng cỏ, và thích nhảy múa và ca hát do đó đã tạo ra nhiều loại điệu nhảy và nhiều loại âm nhạc. Là một di sản văn hóa quan trọng, những điệu nhảy này nổi tiếng với các chuyển động cơ thể mạnh mẽ đặc trưng cho người Mông Cổ song song với tín ngưỡng thiêng liêng. Tìm hiểu thêm về 5 điệu múa truyền thống của người Nội Mông vẫn được gìn giữ và lưu truyền đến ngày hôm nay.

(*Tuvan: Theo wikipedia, người Tuva là một dân tộc Turk sống ở miền nam Siberi. Về mặt lịch sử, họ được xem là thuộc Uriankhai, từ thứ bậc trong tiếng Mông Cổ. Người Tuvan nói một ngôn ngữ Turk và lịch sử dân tộc gần đây của họ bắt nguồn từ người Mông Cổ, người Turk, và Samoyedic.

Những điệu nhảy quan trọng với người Nội Mông không kém gì các bài hát

Khiêu vũ luôn được kết nối chặt chẽ với bài hát. Theo lịch sử, điệu nhảy sớm nhất ở Nội Mông được đặt tên là Tage (giậm chân kèm theo hát). Cuộc sống mục vụ và công việc của những người chăn gia súc trở thành nguồn ý tưởng cho khiêu vũ ở đó. Các điệu nhảy nam ở Nội Mông thể hiện năng lượng dồi dào và đầy sức mạnh. Những điệu nhảy nam nổi tiếng là múa ngựa và kiếm, múa chim ưng và múa tái hiện cảnh cưỡi ngựa. Mỗi chuyển động trong điệu nhảy đều cho khán giả thấy vẻ đẹp trong sức mạnh, sự mạnh mẽ và cơ bắp.

Trong điệu nhảy, chim ưng và ngựa là hai vai trò quan trọng nhất. Thành Cát Tư Hãn cho rằng chim ưng là biểu tượng của vị Thần chiến tranh, có thể đảm bảo sự chiến thắng. Bây giờ, mọi người vẫn coi chim ưng là biểu tượng của chiến thắng. Các đô vật ngày nay trước khi bắt đầu trận đấu thường bắt chước bước nhảy diều hâu để củng cố và tăng cường sự tự tin của họ. Ở một số khu vực, nghi lễ "nhảy chim ưng trắng" được tổ chức để chữa các bệnh lạ không phổ biến của người dân.

Con ngựa là loài động vật rất cần thiết cho các bộ lạc du mục ở Nội Mông. Vì ngựa là có trực giác tốt hữu ích cho con người và có thể tự biết đường đi qua những thảo nguyên vô tận, giúp chủ nhân của chúng thoát khỏi rắc rối trong chiến tranh, chúng là những người bạn trung thành với các bộ lạc du mục. Do đó, hình ảnh con ngựa thường được tìm thấy trong các điệu múa dân gian trên vùng đất đồng cỏ. Những người chăn gia súc không chỉ đơn giản là bắt chước sự xuất hiện của một con ngựa. Họ đặt cảm giác sâu sắc vào việc miêu tả đặc điểm của con ngựa. Bằng các động tác cánh tay, vai và cơ thể, họ thể hiện sự dũng cảm và anh hùng của những người cưỡi ngựa và hình ảnh các giống ngựa khác nhau.

5 điệu nhảy truyền thống của người Nội Mông

Ngoài những điệu nhảy do nam giới biểu diễn ra còn có các điệu nhảy dân gian Nội Mông dành cho nữ. Nổi tiếng nhất là điệu nhảy Jinai (điệu nhảy vắt sữa), điệu nhảy Caihong (điệu nhảy cầu vồng), điệu nhảy Zhongwan (điệu nhảy bát), điệu nhảy Kuaizi (điệu nhảy đũa) và điệu nhảy Andai với những câu chuyện cảm động về nguồn gốc.

Điệu nhảy Andai

Vũ điệu Andai có nguồn gốc từ điệu nhảy tập thể của Kulun Qi ở phía nam của thảo nguyên Horqin như một điệu nhảy tôn giáo. Andai còn được gọi là "điệu nhảy chim ưng trắng ". Điệu nhảy được sử dụng để cầu nguyện với các vị thần và chữa bệnh. Mọi người sẽ thực hiện điệu nhảy này để cầu xin phước lành từ các vị thần, ngăn ngừa bệnh tật và tránh xa xui xẻo. Theo thời gian, điệu nhảy dần được sử dụng để giải trí và được nhảy bởi cả 2 giới. Trong khi người nam thể hiện với phần mãnh liệt dữ dội thì điệu nhảy có phần dẻo dai và dịu dàng hơn khi người nữ thể hiện.

Theo truyền thống, những người tham gia đứng thành một vòng tròn, hát và nhảy với những chiếc khăn lụa trên tay. Các vũ công chì hoặc đứng yên hoặc từ từ di chuyển sang một bên trong khi vung chiếc khăn lụa. Mặc dù dễ thực hiện, bạn sẽ mất kha khá thời gian để hiểu các động tác bởi điệu nhảy Andai chứa đựng ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Một trong những truyền thuyết về điệu nhảy Andai là: Andai thực sự là tên của một cô gái bình thường. Ngày xửa ngày xưa, Andai đột nhiên bị mắc một căn bệnh không rõ, mất trí và bắt đầu cư xử kỳ lạ. Cô vẫn bị bệnh trong một thời gian dài mà không có dấu hiệu phục hồi và gần như sắp chết. Một ngày nọ, người cha, bừng bừng vì lo lắng, bế con gái lên chiếc xe gỗ của một người chăn gia súc đến một nơi xa để gặp bác sĩ giỏi nhưng họ nói không chữa được. Cha cô không bỏ cuộc và điều khiển xe ngựa từ vùng này sang vùng khác. Và không có ai có thể chữa khỏi cho cô. Thật không may, cùng lúc đó cỗ xe đã bị hỏng sau một hành trình dài. Đồng thời, tình trạng của cô gái trở nên tồi tệ và cuộc sống của cô gặp nguy hiểm. Người cha lo lắng không biết phải làm gì ngoài việc đi lang thang quanh xe, vừa khóc trong đau lòng vừa hát một bài hát để bày tỏ nỗi buồn. Bài hát than khóc đã thu hút một số người từ các làng gần đó. Những người chăn gia súc từ mọi hướng nghe thấy tiếng khóc buồn đã đến đó và trấn tĩnh ông già. Họ không thể không rơi nước mắt trước cảnh tượng này và cùng với ông lão vung tay và khóc lóc quanh chiếc xe đẩy. Khi Andai nghe thấy tiếng hát can đảm và điệu nhảy mạnh mẽ, trước sự ngạc nhiên của mọi người, trái tim chán nản của cô đã được khích lệ. Cô lặng lẽ đứng dậy, xuống xe và đi theo mọi người, vung tay và giậm chân với họ. Khi mọi người nhìn thấy cô, cô đã đổ mồ hôi khắp người, và căn bệnh của cô đã được chữa khỏi một cách kỳ diệu.

Tin tốt đã lan truyền và từ đó trở đi, mọi người bắt đầu theo dõi và đối xử với những phụ nữ trẻ mắc các bệnh tương tự bằng cách nhảy xung quanh họ theo cách tương tự. Điệu nhảy được gọi là "Andai." Nếu phụ nữ bị trầm cảm vì những vấn đề trong tình yêu và hôn nhân, gia đình họ sẽ mời pháp sư địa phương khiêu vũ Andai để tránh xa bệnh tật và bất hạnh. Bằng cách này, họ đã cố gắng an ủi bệnh nhân. Họ hát những câu khích lệ. Khi nhịp điệu nhanh hơn, tốc độ của các vũ công cũng vậy. Bệnh nhân cảm thấy phấn chấn tỏng tinh thần và vì điều này, đã hồi phục.

Sau đó, điệu nhảy đã được sử dụng trong một số hoạt động rầm rộ, như các nghi lễ cầu mưa và Lễ hội Nadam (Nadam có nghĩa là trò chơi trong tiếng Mông Cổ). Nó ngày càng trở nên phổ biến và phát triển thành một loại nhảy nhóm, dần trở thành sự mô tả về cuộc sống và thể hiện cảm xúc của con người. Nếu du lịch Nội Mông trúng vào các dịp lễ, bạn sẽ có cơ hội thưởng thức điệu nhảy đặc sắc này.

Điệu nhảy Đũa Kuaizi

Điệu nhảy đũa ban đầu là một điệu nhảy của đàn ông trong các nghi lễ hôn nhân hoặc lễ hội, thường đi kèm với một nhạc cụ có dây và vừa hát vừa nhảy. Ngày nay, đa phần là nữ giới nhảy, buộc đũa cùng với một sợi dây nhỏ và trang trí chúng bằng lụa đỏ, tạo nên hình ảnh rực rỡ vui tươi. Người biểu diễn có thể cầm đũa trong một hoặc hai tay.

Điệu nhảy chén rượu

Sau khi ăn và uống trong một bữa tiệc lễ hội, người Nội Mông sẽ lấy chén rượu từ bàn và bắt đầu nhảy để thể hiện niềm hạnh phúc. Các điệu nhảy chén rượu phát sinh từ phong tục này. Là một hỗn hợp của sự dẻo dai và dịu dàng, điệu nhảy xuất hiện duyên dáng, đơn giản và có sức hấp dẫn vô bờ. Người nữ nhảy có phần uyển chuyển hơn người nam.

Điệu nhảy Chagan Lindar

Trên đồng cỏ Tích Lâm Quách Lặc (Xinlin Gol) của Nội Mông có một điệu nhảy giải trí tên là "Chagan Lindar", có nghĩa là "chơi với một cây gậy" trong tiếng Mông Cổ. Nó thường được thực hiện bởi những người đàn ông và phụ nữ trẻ vào mỗi trung thu khi có trăng tròn.

Vũ điệu Shaman

Do hệ thống ngôn ngữ đặc biệt, hệ sinh thái địa phương và bối cảnh lịch sử, trong nhiều thế kỷ, hầu hết người dân Mông Cổ đã chấp nhận pháp sư.  Vũ điệu Shaman được thực hiện bởi pháp sư  cầu nguyện với các vị thần, xua tan tà ác và chữa khỏi bệnh. Nó đã từng phổ biến trong các bộ lạc phía bắc Trung Quốc, là kết quả của các hoạt động săn bắn, câu cá và thờ cúng nguyên thủy. Người địa phương thường gọi là “tiao da shen”.


(Tổng hợp)




TP.HCM
(028) 7305 7939
HÀ NỘI
(024) 7305 7939
ĐÀ NẴNG
(0236) 730 7939
ĐỒNG NAI
(0251) 730 7936
CẦN THƠ
(0292) 730 7939
HẢI PHÒNG
(0225) 730 7939
VINH - NGHỆ AN
(0238) 730 7939